Đảng Cộng sản Việt Nam – niềm tin, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam

127
0
Share:

Suốt 90 năm lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được vị trí, vai trò, trọng trách của mình trước vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước. Vì vậy, Đảng luôn hòa cùng hơi thở và mạch sống của nhân dân, ý Đảng hợp lòng dân tạo nên sức mạnh quật khởi, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và có những đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì hoà bình và tiến bộ của nhân loại.

Ngày 3-2-1930, dưới sự chủ trì của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự tất yếu của lịch sử, là kết quả phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, là kết quả quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách mạng nước ta, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc.

Ngay sau đó, Đảng ta đã nắm ngay quyền lãnh đạo và hòa vào cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp đang diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ ở Việt Nam, từng bước tạo thế, lực, thời cơ và chớp thời cơ “ngàn năm có một”, lãnh đạo cả dân tộc vùng dậy khởi nghĩa. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã phá tan sự thống trị của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến áp bức nhân dân ta, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

9 năm sau đó, dân tộc Việt Nam có quyền tự hào với bè bạn năm châu vì đây là lần đầu tiên một dân tộc thuộc địa đã đánh thắng thực dân Pháp hùng mạnh, làm nên mốc son Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương, đồng thời cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa vùng lên “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Dân tộc ta không chỉ tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, mà chính Đảng và Bác Hồ đã tiếp thêm sức mạnh, nguồn sống, niềm tin để cả dân tộc Việt Nam tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh của nhân dân ta, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV viết: “Trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với Nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Trong giai đoạn mới, Đảng quyết làm tất cả vì sự phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Trong nghèo nàn và lạc hậu, giữa bộn bề gian khó do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, sự bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, Đảng ta luôn giữ vững, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khởi xướng và lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước, đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Đời sống của nhân dân ở mọi miền Tổ quốc, dù là vùng sâu, vùng xa hay nơi khó khăn nhất cũng không ngừng được cải thiện; bộ mặt đô thị ngày càng văn minh, các vùng nông thôn ngày càng đổi mới; uy tín và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định vững chắc.

Tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt gần 7%. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 200 USD năm 1990 lên 2.587 USD năm 2018. Đặc biệt, năm 2019, tăng trưởng GDP toàn quốc đạt 7,02%, quy mô nền kinh tế đạt hơn 262 tỷ USD. Kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ với khu vực và thế giới. Hiện Việt Nam có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hiệp định thương mại song phương với hơn 100 nước. Công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả tốt, tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019…

Trong quá trình lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, bên cạnh thành tựu, Đảng ta cũng không tránh khỏi những khuyết điểm, song Đảng ta đã nhìn nhận, lắng nghe ý kiến phản hồi từ nhân dân, từ đó đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời và công khai phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là minh chứng về quá trình từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch “là đạo đức, là văn minh” như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã khẳng định.

Vào thời điểm này, chúng ta càng cần phải khẳng định mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng. Chính vì vậy mà Đảng ta luôn luôn nhấn mạnh phải đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta. Và đó cũng chính là những lý do Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục bàn và ra Nghị quyết về xây dựng Đảng.

Một trong những luận điểm chỉ đạo xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng được Đảng ta rất coi trọng, đó là: “Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo”. Do đó phải thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Đặc biệt, liên tiếp trong nhiệm kỳ Đại hội XI và từ Đại hội XII đến nay, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, đồng thời triển khai thực hiện quyết liệt.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại phiên họp.

Kỷ luật đảng là tự giác, nghiêm minh và hoàn toàn không có vùng cấm. Điều này được chứng minh qua thực tiễn. Tại Hội nghị Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng phiên họp thứ 14, ngày 16-8-2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban chỉ đạo, phát biểu nhấn mạnh nguyên tắc: “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Những con số mà các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên bị kỷ luật dù rất đau đớn nhưng đã thể hiện sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng. Chỉ tính từ năm 2013 đến tháng 6-2019, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật hàng chục nghìn cán bộ, đảng viên. Chỉ từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, đã có khoảng 80 cán bộ cao cấp diện Trung ương quản lý (cả đương chức và nghỉ hưu) bị kỷ luật, thậm chí xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị. Có thể khẳng định, quan điểm chỉ đạo nhất quán của Đảng là tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đã thông suốt.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một quá trình tiếp thu cái tốt, cái tiến bộ để hoàn thiện mình, loại bỏ cái xấu, cái không phù hợp cản trở sự phát triển. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng tổng kết: “Đảng ta có thể tự hào là người kế tục những truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, là người mở đường cho nhân dân ta tiến lên một tương lai rực rỡ”.

Nguyễn Đức Uyên

Bình luận

Bình luận

Share:

Leave a reply